WELCOME
      TO
    PHATDIEMHOUSE
NICE TO MEET YOU.
                              
Our group have 6 people. We live, work and study at Phat Diem Bishop's house
Welcome everybody - who was, is and will visit our blog.
Thank you so much.

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

CẨM NANG VÀO ĐỜI
HÀNH TRANG VÀO ĐỜI CỦA TỪNG NGƯỜI CHÚNG TA


CHƯƠNG I: VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT
BÀI 1: NÓI
1. Không nên nói chuyện ồn ào như la hét.
2. Không huýt sao hay nói lung tung.


3. Không nói tục, chửi nhau.
4. Không nói khi người khác đang nói.
5. Ai hỏi phải trả lời, im lặng là khinh ngườ
6. Trên xe không nên nói to tiếng.


BÀI 2:  NHÌN
1. Không nên nhìn chòng chọc vào người khác, nhất là người tàn tật.
2. Đi qua nhà ai không nên nhìn qua cửa sổ.
3. Khi nói chuyện, thỉnh thoảng phải nhìn vào mặt nhau, đừng nhìn nơi khác hay nhìn xuống đất.
4. Không liếc mắt đọc trộm tờ báo hay cuốn sách của người ngồi bên cạnh.

       BÀI 3: ĐỨNG
1. Không đứng chân cao chân thấp.
2. Không đứng dựa cột dựa tường.
3. Nên đứng ngay thẳng.

BÀI 4: NGỒI
1. Không ngồi gác chân lên ghế trước mặt.
2. Không ngồi xếp bằng hay chồm hổm trên ghế.
3. Lưng tựa sát lưng ghế.
4. Không ngồi ngửa đầu ra sau.
5. Không ngồi dang tay trên ghế.
6. Chân co lại.

BÀI 5: SẠCH SẼ
1. Không khạc nhổ, nhất là trên xe.
2. Không lấy tay áo, gấu áo để lau miệng.
3. Không vất rác, vỏ chai, nước dơ làm mất vệ sinh đường đi.
4. "Đến sạch đi cũng phải sạch."
5. Không viết bậy trên tường trên bàn ghế.

CHƯƠNG II: GẶP GỠ
BÀI 1: CHÀO HỎI
1. Khi chào, nên dở nón ra và hơi cúi đầu.
2. "Chào ai hơn không chào."
3. Đang ngồi nói chuyện với bạn, có người lớn vào, phải đứng dậy chào rồi mới ngồi xuống.
4. Gặp nhiều người phải chào tất cả.

BÀI 2: BẮT TAY
1. Người nhỏ không được phép giơ tay ra trước, chờ khi nào người lớn đưa tay ra trước, người nhỏ mới bắt tay.
2. Phải bắt tay bằng tay mặt.
3. Phải bắt tay niềm nở thân tình, đừng bắt tay cách gượng gạo. 
4. Khi bắt tay, đừng xiết tay mạnh quá hay lắc qua lắc lại. 

BÀI 3: THÁI ĐỘ VỚI NGƯỜI LỚN
1. Đang nói chuyện hay đang học, nếu có người lớn tới ta phải đứng dậy cúi chào. 
2. Khi nói chuyện với người trên, tránh cử chỉ gãi đầu, gãi tai, hoặc để tay ra sau lưng. 

CHƯƠNG III: GIỚI THIỆU
BÀI 1: CÁCH GIỚI THIỆU
1. Phải giới thiệu người dưới cho người trên, không cần giới thiệu người trên cho người dưới. 
2. Trong trường hợp người dưới chưa biết rõ người trên, ta có thể giới thiệu người trên cho người dưới. 
3. Hai người được giới thiệu, phải cúi đầu chào nhau hoặc bắt tay nhau. 

BÀI 2: GIỚI THIỆU NGƯỜI CÓ ĐỊA VỊ.
1. Ta giới thiệu tên người trước, địa vị sau. Ví dụ: Xin giới thiệu ông Lê Văn A, họa sĩ. 
2. Trong buổi lễ, đối với vị quan khách đặc biệt, chỉ cần giới thiệu địa vị của người đó. 

CHƯƠNG IV: CỬ CHỈ, ĂN MẶC
BÀI 1: NHỮNG CỬ CHỈ DÈ DẶT
1. Không khạc nhổ xuống đất. 
2. Khi hắt hơi, nhảy mũi, phải bịt mũi để giảm tiếng ồn. 
3. Hỉ mũi phải dùng khăn tay. 
4. Khi ngáp phải lấy tay che miệng. 
5. Không nên gãi, ngoáy tai, cạy mũi ở nơi đông người. 
6. Chỉ xỉa răng ở nơi bàn ăn, khi xỉa răng nên lấy tay che miệng. 

BÀI 2: ĐẦU TÓC QUẦN ÁO
1. Nên tắm rửa mỗi ngày. 
2. Ngủ dậy phải rửa mặt, đánh răng, chải tóc cẩn thận. 
3. Ăn mặc đàng hoàng khi ra đường, khi đến nơi đông người. 
4. Cài cúc áo, cúc quần cẩn thận. 
5. Không nên chạy theo mốt mới cách quá đáng. 

CHƯƠNG V: CÁM ƠN, XIN LỖI
BÀI 1: CÁM ƠN
1. Tiếng cám ơn phải luôn nằm trên miệng 
+ Cám ơn để tỏ lòng biết ơn. 
+ Mọi người lớn nhỏ phải cám ơn nhau. 
2. Phải biết trả lời người nói lời cảm ơn. Ví dụ: Không có chi. 

BÀI 2: XIN LỖI
1. Có việc cần đi trước, ta nói: xin phép tôi đi trước.
2. Khi vô ý đụng người khác, ta nói: Xin lỗi ông.

CHƯƠNG VI: TRONG GIA ĐÌNH
1. Tập làm mọi sự như ở chỗ đông người. Ví dụ:
+ Nhảy mũi nhẹ, nên bịt mũi.
+ Ngồi ăn đàng hoàng như ở bàn tiệc.
2. Con cái phải đi thưa về trình.
3. Nhà cửa ngăn nắp, sách vở quần áo thứ tự.
CHƯƠNG VII: RA NGOÀI ĐƯỜNG
1. Khi ra đường phải mặc quần áo sạch sẽ gọn gàng, đầu tóc chải cẩn thận.
2. Giữ luật đi đường, đi bên phải để tránh tai nạn.
3. Không chỉ trỏ hoặc nhìn chòng chọc vào mặt người khác.
4. Không đánh lộng chửi mắng.
5. Gặp đám tang, ta bỏ mũ xuốngvà cúi đầu chào linh cữu.
6. Không nên đua xe đạp hoặc vừa đạp vừa làm trò hề hay đi bỏ buông tay lái.
7. Khi lên xe phải nhường chỗ cho người lớn, nhất là cụ già và phụ nữ mang thai.
8. Khi được quá giang (đi nhờ xe), ta cám ơn và chờ người đó rồ máy ta mới đi về nhà.
9. Không khạc nhổ khi đi đường, trên xe đạp, máy, ôtô v.v

CHƯƠNG VIII: LỜI CHÂU NGỌC
1. Nên khen ba người mỗi ngày.
2. Hãy nhìn vào mắt mọi người.
3. Thường xuyên nói "cám ơn."
4. Dùng trí tuệ để tạo niềm vui, chứ đừng dùng để lăng mạ người khác.
5. Nên chi tiền một cách hợp lý.
6. Hãy chào hỏi mọi người trước.
7. Hãy trả lại những gì mình mượn.
8. Kết bạn mới nhưng phải trìu mến những người bạn cũ.
9. Đừng đổ lỗi cho người khác. Hãy lãnh trách nhiệm cho mỗi hành vi của mình trong đời sống hằng ngày.
10. Hãy chấp nhận khuyết điểm của mình.
11. Đừng bao giờ thất vọng về ai. Điều kỳ diệu luôn xảy ra hằng ngày.
12. Hãy âu yếm con trẻ sau khi chấn chỉnh chúng vào nề nếp.
13. Tránh buông ra những lời nhận xét cay độc và giễu cợt người khác.
14. Trong công việc và trong quan hệ gia đình, hãy nhớ rằng điều quan trọng nhất là lòng tin.
15. Hãy chọn bạn đời một cách kỹ lưỡng, cẩn thận: 90% hạnh phúc hay đau khổ trong đời phụ thuộc vào chính điều này.
16. Hãy có thói quen làm những việc tốt cho những người ít may mắn.
17. Nên tích cực đi bộ 30 phút mỗi ngày.
18. Hãy luôn mỉm cười. Chẳng mất gì mà lại được rất nhiều.
19. Trí não phải cứng rắn những trái tim phải dịu dàng.
20. Đừng phí thời gian phản ứng lại những người chỉ trích mình.
21. Đừng nói mọi người phải làm một việc như thế nào. Thay vào đó, hãy cho họ biết phải làm cái gì. Họ sẽ ngạc nhiên với những giải pháp sáng tạo của bạn.
22. Không nên hàng động khi đang giận dữ.
23. Đừng bao giờ trả công khi công việc chưa hoàn thành.
24. Hãy tìm những đức tính tốt trong mỗi con người.
25. Hãy thận trọng khi cho bạn bè vay tiền. Bạn có thể mất cả tiền lẫn bạn.
26. Nên dùng người nhanh nhẹn tháo vát hơn mình.
27. Luôn gìn giữ bàn học và phòng làm việc gọn gàng sạch sẽ.
28. Hãy chấp nhận khổ đau và thất vọng như là một phần của cuộc sống.
29. Nên đo mức thành công của con người bằng mức độ được hưởng cuộc sống thanh bình, có sức khoẻ và được yêu mến.
30. Nên đóng góp cho các hoạt động từ thiện, hay có chường trình giúp đỡ người khác trong những dịp đặc biệt: Giáng Sinh, Phục Sinh, Năm mới…
31. Khi bạn muốn chỉ trích cha, mẹ, vợ, bạn hãy tự cắn lưỡi trước đã. (Hãy suy nghĩ cẩn thận trước khi làm điều đó)
32. Hãy đọc lại cuốn sách mà bạn yêu thích.
33. Đừng bỏ phí bất kỳ cơ hội nào để tỏ cho mọi người biết rằng bạn rất quý mến họ.
34. Phải hiểu rằng: hạnh phúc không dựa trên của cải, quyền lực, danh tiếng, mà dựa trên quan hệ của bạn với những người con yêu mến, kính trọng.
35. Hãy trả lời điên thoại với sự nhiệt tình trong giọng nói của mình. Và cần tránh thái độ bất lịch sự khi trả lời người lạ hay gọi nhầm máy
- Khi gọi nhầm máy, cần tế nhi & nhẹ nhàng xin lỗi họ vì sự làm phiền của bạn.
36. Đừng hy vọng người khác sẽ nghe lời khuyên của bạn mà không nhìn vào tấm gương của bạn.
37. Khi mang trả xe mình mượn người khác nên đổ đầy bình xăng và rửa sạch sẽ.
38. Nên cầu nguyện trước và sau bữa ăn.
- Trước bữa ăn (Một người xướng): Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì những của ăn Chúa ban cho chúng con đây do lòng rộng rãi của Chúa chúng con sắp đợc lãnh nhận. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. - Amen. (Tất cả cùng đáp lại)
- Sau bữa ăn (Một người xướng) : Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. - Amen. (Tất cả cùng đáp lại)
39. Hãy trung thành với việc dâng mình buổi sáng khi thức đậy và xét mình buổi tối trước khi đi ngủ.
40. Và đừng bao giờ quên cầu nguyện cho những người thân của bạn: Cha mẹ, anh chị em, bạn bè…và cả người bạn mà mình đang có hiềm khích.
Chúa Giêsu luôn yêu thương và chúc lành cho bạn thiếu nhi. “Hãy để trẻ nhỏ đến với Thầy, vì Nước Trời là của nhưng ai giống như chúng.”
Hãy đến và học với Chúa Giêsu nhé! 

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

Chặng đường mới của chúng tôi...

Những năm sống dưới mái nhà Tòa giám mục thân yêu đã trôi qua được 4 năm. Vui mừng xiết bao khi 6 anh em chúng tôi vẫn đang trên đường theo Chúa trong ơn gọi dâng hiến, dù rằng chúng tôi không đang học cùng lớp như trước nữa.
Năm nay nhóm chúng tôi có thêm Căn vào Đại Chủng viện. Một thành viên cuối là Quyền, cũng đã đỗ Đại Chủng Viện, nhưng năm tới sẽ nhập trường theo đức khiêm nhường đáng quý của anh ấy.
Mong cho hành trình ơn gọi của chúng tôi mỗi ngày một thăng tiến. Và quan trọng hơn, tình bạn giữa chúng tôi ngày một bền chặt, thân thiết.
Chúng tôi mỗi người một nơi một gia đình, nhưng trong Chúa, chúng tôi trở nên một. (In God, we are one.) Thật tuyệt với!!!
Hãy nhận ra chúng tôi trong bức ảnh này nhé!

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

BẤT AN VÀ BÌNH AN

Dù sống trong cảnh nghèo túng hay giàu sang, kém cỏi hay thông minh, nhanh nhẹn hay chậm chạp; dù địa vị xã hội cao sang hay thấp hèn, thế giá hay thường dân thì sống bình an luôn là khát vọng sâu xa nhất của con người. Có lẽ, không gì bất hạnh cho bằng luôn sống trong tình trạng bất an. Phải chăng bình an là kết quả của một không gian không tiếng động, không tiếng ồn? Phải chăng bình an là không có chiến tranh, không có cọ xát, không có xê dịch?

Thực tế cho thấy, người dân Việt Nam vẫn đang phải trải qua nhiều nỗi bất ổn và bất định mặc dù chiến tranh đã chấm dứt cách đây hơn 35 năm.

Thông thường người ta nghĩ rằng người có quyền lực, danh vọng, địa vị, tiền bạc, của cải sẽ là những cứ điểm an toàn cho cuộc sống. Vì suy nghĩ như vậy, nên có những người chấp nhận đánh đổi những giá trị tinh thần, chấp nhận chà đạp chân lý, chấp nhận bóp chết tiếng nói của lương tâm để có được những điểm tựa nói trên. Nhưng những điểm tựa kể trên có thực sự đem lại bình an cho cuộc sống của con người hay không? Và ngoài những thứ mà con người cho là điểm tựa như đã nói ở trên thì có một điểm tựa nào khác nữa để con người bám vào không?

Bất chợt, tôi nhớ tới khuôn mặt của Đức Giêsu: khuôn mặt an bình của một hài nhi ngủ yên trong máng cỏ, khuôn mặt hồn nhiên của một em bé trong vòng tay mẹ trên đường từ Ai cập về Nadaret, khuôn mặt hào hứng của một thiếu niên tại đền thờ Giêrusalem, khuôn mặt trầm ngâm của một thanh niên tại dòng sông Giođan rồi tại sa mạc trước khi bắt đầu sứ vụ công khai, khuôn mặt vui tươi của một người khách dự tiệc cưới ở Cana, khuôn mặt phấn khởi của một ráp-bi Do thái khi giảng dạy và chiêu mộ môn đệ, khuôn mặt thương cảm của người thầy thuốc khi chữa lành bệnh tật, khuôn mặt có vẻ không hài lòng nhưng vẫn điềm tĩnh của một ngôn sứ khi tranh luận với nhà cầm quyền Do thái, khuôn mặt đau khổ nhưng vẫn thư thái của một vị ân nhân khi bị phản bội, tố cáo và kết án, khuôn mặt hấp hối nhưng rất thanh thoát của một người con và của người tôi trung khi trút linh hồn và trao phó mọi sự trong tay Cha. Xuyên qua tất cả những khuôn mặt ấy, Đức Giêsu lúc nào cũng là một người bình an. Quả thật, đúng với tước hiệu của Ngài là “Vua của hòa bình” và đúng như thông điệp của Ngài là tin vui hòa bình cho thế giới.

Tại sao Đức Giêsu luôn luôn bình an và bình an sâu xa tới mức có thể làm cho mọi người tiếp xúc với Ngài cũng cảm thấy bình an? Chẳng phải cuộc đời của Ngài có quá nhiều sóng gió hay sao? Chẳng phải hoàn cảnh xã hội, chính trị, tôn giáo của Ngài lúc ấy cũng có lắm éo le hay sao? Chẳng phải gia đình và cộng đoàn của Ngài cũng gặp nhiều khó khăn hay sao?

Theo tôi, câu trả lời nằm ở chỗ Đức Giêsu đã thống nhất tất cả mọi sự dù đa tạp đến đâu, dù dị biệt đến mức nào. Chính Đức Giêsu đã thống nhất để chỉ còn là một. Nếu thế, điều duy nhất ấy là gì đối với Đức Giêsu? Chỉ một Chúa để tôn thờ, chỉ một nhân loại để yêu mến, chỉ một việc để cứu vớt, chỉ một thái độ là để vâng phục, chỉ một hi sinh là chính bản thân mình. Nói tóm lại, chỉ một điều cần thiết hay chỉ một điều đáng kể là hoàn thành kế hoạch cứu độ của Chúa Cha. Khi nhìn ra cái thống nhất trong đa dạng ấy, hẳn Đức Giêsu không còn thấy bị giằng co xâu xé, không còn cảm thấy bất an bất ổn, mà luôn cảm thấy bình an thư thái.

Quả nhiên, bây giờ tôi mới hiểu tại sao sống giữa một không gian hết sức tĩnh lặng và một bầu khí hết sức thanh bình mà lòng mình lại không yên. Chẳng phải là tôi không biết nói năng, cư xử và hành động cho bằng tôi chưa biết thống nhất tất cả thành một điều duy nhất, một mối bận tâm duy nhất, một hành động duy nhất, đó là mến Chúa và yêu người.

Đời sống chủng sinh nhiều lúc chúng ta cảm thấy bất an, bất ổn. Thiết tưởng, bất an, bất ổn có thể vì chúng ta chưa thống nhất được tất cả. Nếu như chúng ta chỉ lo quân bình các mối tương giao; chỉ biết kiếm tìm chân lý nơi một mình Thiên Chúa; chỉ biết đánh giá mọi vấn đề theo cái nhìn của Đức Giêsu; chỉ biết từng ngày trở nên đồng hình động dạng với Đức Giêsu-mục tử nhân lành thì chắc chắn đời sống của chúng ta luôn có được sự bình an thẳm sâu.

Tóm lại, để có một tâm hồn an bình, dù trải qua nhiều nghịch cảnh, chúng ta cần phải thống nhất tất cả mọi sự. Nhưng tâm hồn chúng ta chỉ đáng cho chúng ta quay về tìm lấy bình an, khi đó là một tâm hồn chỉ có một bận tâm, một ước mơ, một tính toán: tất cả chỉ đề “làm vinh danh Thiên Chúa” mà thôi.

P. Vũ Nam

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

LỜI MỜI KHÓ - Anmai, CSsR


“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9, 23)
Ở đời ! Có chăng người ta sẽ hăng hái bước đi theo ai đó, đi tìm điều gì đó nhẹ nhàng và thênh thang, êm ái và dịu chàng chứ chẳng ai đời lại muốn đi tìm cái khổ, cái khó cả.
Thoạt đầu, xem ra lời mời gọi khó nghe và nghịch lý nhưng ở khi đối diện với thực tại của cuộc đời, ai cũng có cây thập giá của đời mình. Và nếu như ai vui lòng vác những đau khổ, những vất vả thì đến cuối cuộc đời, đến cuối chặng đường sẽ cảm thấy lòng thanh thản và được hưởng vinh quang cùng với Đấng đã vui lòng vâng phục Chúa Cha.
Thập giá, từ xưa đó chính là dấu chỉ, là biểu tượng, là hình ảnh, là dụng cụ để người ta thi hành án tử cho tên tử tội. Với Chúa Giêsu cũng vậy, Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi cây thập giá khi thi hành án. Án tử người ta dành cho Chúa Giêsu cũng chỉ vì cái tội kiêu ngạo. Cũng vì loại trừ, vì khước từ một Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ trần gian cho nhân loại, những người Do Thái thời Chúa Giêsu đã tìm đủ mọi cách để khử trừ Đấng đó ra khỏi cuộc đời này khi có dịp.
Cái tội kiêu ngạo đẩy con người vào con đường chết đó không phải có vào thời Chúa Giêsu nhưng nó đã có từ khi con người xuất hiện. Chính ông bà nguyên tổ đã đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời của mình vì tưởng rằng sau khi ăn trái cấm như lời con rắn dữ mời gọi họ sẽ hơn Thiên Chúa.
Vẫn là cái tội kiêu ngạo không chấp nhận thân phận thụ tạo của mình.
Trong cái thân phận là thụ tạo, điều chính yếu, điều căn cốt nhất mà con người phải nhận ra đó chính là mình chẳng là gì cả, tất cả là nhờ Chúa và bởi Chúa. Khi ý thức như vậy, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản. Và ngược lại, khi con người không nhận ra căn cốt của đời mình thì con người sẽ nổi loạn để rồi lại bất phục tùng và cảm thấy mệt mỏi khi phải vác thập giá của đời mình.
Trong dòng chảy lịch sử cứu độ, những khuôn mặt, nhưng hình ảnh của những con người đau khổ vẫn còn đó như là bài học cho những ai bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá. Những khuôn mặt đó, nhìn thấy quả là đau khổ bởi lẽ không còn gì đau khổ hơn nhưng những người đó vẫn đi theo Chúa cho đến cùng.
Khuôn mặt sáng, khuôn mặt đẹp mà ta nhìn ngắm phải chăng là khuôn mặt của ông Giob. Đọc lại cuộc đời của ông. Nỗi đau tột cùng của ông sẽ không đau lắm khi ông là người bình thường mà lại rơi vào cảnh mất mát, đau thương cả tinh thần lẫn thể xác. Nỗi đau càng giày vò ông khi cuộc đời của ông đang sống trong vinh quang, trong phú quý và có thể nói là đỉnh, là điều mà nhiều người mơ ước với cái cơ nghiệp, con đàn cháu đống cùng với đàn súc vật thật đông. Nỗi đau sâu hoẵm đó nó khoét đời ông và thử thách niềm tin của ông khi những người bạn đến thách thức ông. Đau hơn nữa đó chính là lời phỉ báng, lời kém tin của người vợ của ông. Nhưng, trong những thử thách đó, lòng ông vẫn đơn thành : “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về lòng đất cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi. Người muốn sao nên vậy : xin chúc tụng danh Chúa. Mình biết đón nhận ơn lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ lại không biết đón nhận sao?” (G 1,21 ; 2,10b)
Lịch sử lại cứ trôi và cuộc đời vẫn chảy. Ta lại bắt gặp hình ảnh của người môn đệ đã hoàn thành cách xuất sắc khi bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá.
Nhìn, nghe, đọc những trang giấy trong sách Thánh, ta sẽ thấy những đau khổ của người môn đệ đau khổ đến tột cùng là Đức Trinh Nữ Maria. Thấy thôi chứ không cảm được đau khổ mà Mẹ phải chịu.
Thập giá ập đến ngay cuộc đời của Mẹ khi Mẹ nhận lời sứ thần truyền là mang thai Đấng Cứu Độ. Sẽ bị ném đá theo luật Do Thái ngay khi người ta truy tầm ra rằng thiếu nữ Maria không có chồng mà lại có mang. Thoát được án tử sau khi Giuse nhận Mẹ về làm vợ. Cuộc đời đâu êm ả như bao người suy và bao nhiêu người nghĩ. Tưởng chừng một màu hồng tươi đẹp trải suốt trên cuộc đời của Mẹ nhưng đâu được như thế ! Đau khổ cứ như cuộn, cứ như ôm lấy cuộc đời của Mẹ. Đau khổ đó cuộc vào đời Mẹ cho đến tận cùng đó chính là đỉnh đồi Canvê. Không còn nỗi nhục và nỗi đau nào cho bằng con mình vô tội lại chịu chết treo cùng với hai người có tội. Vô cớ, oan khiên nhưng đành phải chấp nhận bởi lòng người gian ác.
Mẹ đã thưa hai tiếng xin vâng cho đến cuối cuộc đời.
Và sẽ là một thiếu sót lớn hay nói cách khác là sẽ vô nghĩa khi không chiêm ngắm con người chịu treo trên thập giá để mang lại ơn cứu độ cho con người. Ơn cứu độ cho nhân loại khởi nguồn từ con người đã hoàn toàn vâng phục chịu chết treo trên thập giá như người mang trọng tội.
Thư gửi tín hữu Philip đã diễn tả :
“Đức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự. (Pl 2, 6-8)
Chúa Giêsu, dù ở cái địa vị vinh quang nhưng lại trút bỏ và vâng phục và chết một cách nhục nhã. Còn ta, ta là ai mà ta lại tưởng mình thế này thế kia để ta lại muốn một lần nữa treo Chúa Giêsu – Đấng Cứu Độ trần gian – trên thập giá.
Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,
Ngài phán bảo : “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi !”
Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi !
Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,
như cỏ đồng trổi mọc ban mai,
nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.
Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.
Lạy Chúa, xin trở lại ! Ngài đợi đến bao giờ ?
Xin chạnh lòng thương xót những tôi tớ Ngài đây. (Tv 89,3-4.5-6.12)
Lời mời gọi bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá mãi mãi vẫn là lời mời gọi luôn luôn mới và giá trị trên cuộc đời của ta. Lời mời gọi đó quả là khó chứ không phải dễ dàng bước theo. Khi và chỉ khi ta nhìn nhận thật phận tôi đòi của chúng ta, thân phận thụ tạo của chúng ta thì khi ấy chúng ta lại nhẹ nhàng và thanh thản để đi theo con đường mà Chúa Giêsu đã đi. Và, khi vâng phục đến tột đỉnh vác thập giá đời mình thì dĩ nhiên ta cũng sẽ được hưởng phần phúc cứu độ mà Đấng Cứu Độ trần gian bị treo trên thập giá đã hứa ban cho những ai ngày mỗi ngày bước đi theo Ngài.

Học yêu Thánh Giá - Lm Giuse Nguyễn Hữu An


Tình cờ tôi nghe bài hát “học yêu Thánh Giá”, từ web: mp3.zing.vn/bai-hat/Hoc-yeu-Thanh-Gia.
Lời ca ngắn gọn mà sâu sắc, giai điệu nhẹ nhàng cho tôi cảm nhận sâu lắng về tình yêu Thánh Giá Chúa Giêsu.
Thánh Giá là chữ T.
Người nằm giang tay chữ Y.
Là tình yêu, yêu đến tận cùng.
Yêu nhân gian chiều ngang.
Yêu đời mình chiều sâu.
Yêu Chúa là chiều cao.
Để tình yêu luôn mãi nhiệm mầu.
Thập giá là chữ T được tạo nên do hai thanh gỗ. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự yếu đuối trải rộng. Thanh đứng tượng trưng cho sự sống vươn cao. Ý mụốn của con người là thanh nằm. Ý muốn của Thiên Chúa là thanh đứng.
Trên thập giá, Chúa Kitô chịu đóng đinh dang tay thành chữ Y. Tình yêu là điểm giao thoa giữa thanh nằm của sự chết và thanh đứng của sự sống. Cả ba chiều kích ngang, sâu, cao của thập giá đều quy tụ nơi tình yêu của Đấng chịu đóng đinh. Chúa Kitô đã đón nhận cái chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại.
Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh. Tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt đến nỗi Chúa Cha “đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, là một hy lễ dâng lên Chúa Cha, cũng là sự tự hiến cho loài người trở nên lương thực nuôi sống chúng ta.
Thánh Phaolô nhấn mạnh sự tương phản chưa từng thấy trong mầu nhiệm Thập giá. Sự hạ mình sâu thẳm của Đức Giêsu Kitô “Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu. Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa” ( Pl 2,6-11).
Theo cái nhìn của Phaolô cũng như của Gioan, Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng chính là Chúa Giêsu được tôn vinh. Đó là sự tôn vinh Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và Tình Yêu ấy đã biểu lộ rõ ràng nhất nơi Thập giá Chúa Kitô. Không nơi nào Tình Yêu của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn như nơi “con người Chúa Giêsu chịu đóng đinh”.
Ca nhập lễ ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá đã mượn lời của Thánh Phaolô trong thư Galat 6,14 để hân hoan hát lên : “Niềm vinh dự của chúng ta chính là Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ Người, chúng ta được cứu độ, được sống và được phục sinh; chính Người cứu độ và giải thoát chúng ta”.
Kinh Tiền Tụng đã chú giải : “Thật vậy, xưa vì cây trái cấm, loài người chúng con phải tử vong, nay nhờ cây thập giá lại được sống muôn đời; và ma quỷ xưa chiến thắng nhờ cây trái cấm nay thảm bại vì cây thập giá của Đức Kitô, Chúa chúng con”.
Thánh Bonaventura viết : “Thánh Giá là cây tòan hảo, được thánh hóa bởi Máu Chúa Kitô, mang đầy trái thơm ngon“. Cây Thánh giá còn được phong phú hóa như là một loài cây quý hiếm và tươi thắm diễm lệ, hoa trái tràn đầy trong lời trong kinh ‘A Rất Thánh Giá’: “Khen cây thánh giá ở giữa rừng phàm, nên giống báu lành, nên cây sang trọng, nên đơn linh nghiệm, nên tàu vượt qua biển hiểm thế nầy….Cây thánh giá tốt lành rất mực dìm dà êm mát, bóng che thiên hạ khỏi chốn hỏa hình. Cội rễ, nhành lá, búp bông, hoa quả. Từ xưa đến nay, cây nào dám ví bằng cây thánh giá, từ cây thánh giá chở mình Chúa Cả đóng đinh trên cây thánh giá”.
Tại bãi biển Copacabana tối thứ sáu 26-7-2013 đi Đàng Thánh Giá, Đức Thánh Cha Phanxicô diễn giảng Thập giá là : “Một tình yêu tuyệt vời khi đi vào tội lỗi của chúng ta và tha thứ cho nó, đi vào đau khổ của chúng ta và cho chúng ta sức mạnh để chịu đựng. Đó là một tình yêu đi vào cái chết để chiến thắng nó và cứu vớt chúng ta. Thập giá của Chúa Kitô chất chứa tất cả tình yêu của Thiên Chúa, lòng thương xót vô biên của Ngài. Đây là một tình yêu mà chúng ta có thể đặt vào đó tất cả niềm tin của chúng ta, nơi chúng ta có thể tin tưởng. Các bạn trẻ thân mến, chúng ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu, chúng ta hãy phó thác vào Người một cách trọn vẹn! (x. Ánh Sáng Đức Tin, 16). Chỉ trong Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, chúng ta mới có thể tìm thấy phần rỗi và ơn cứu độ. Với Ngài, sự dữ sự đau khổ và cái chết không còn quyền thế, bởi vì Ngài cho chúng ta hy vọng và sự sống: Ngài đã biến Thập giá từ một công cụ của sự thù ghét, sự thất bại và sự chết thành một dấu chứng của tình yêu, sự khải hoàn và sự sống”.
Đức Thánh Cha nhắc lại sự kiện vào cuối Năm Thánh Cứu Độ 1984, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã muốn tín thác Thập Giá Chúa cho người trẻ và ngài nói: “Các con hãy đem Thánh Giá vào trong thế giới như dấu chỉ tình yêu thương của Chúa Giêsu đối với nhân loại, và loan báo cho tất cả mọi người rằng chỉ nơi Chúa Kitô chết và phục sinh, mới có sự cứu rỗi và ơn cứu độ” (Diễn văn với giới trẻ, 22 tháng 4 năm 1984). Kể từ đó, Thập Giá đã rong ruổi qua mọi đại lục, và đi qua các thế giới khác nhau nhất của cuộc sống con người, hầu như được thấm nhập bởi các tình trạng sống của biết bao nhiêu người trẻ đã trông thấy và đã mang Thập Giá đó. Không có ai đụng tới Thập Giá Chúa Giêsu mà không để lại một cái gì đó của chính mình, và không đem một cái gì đó của Thập Giá Chúa Giêsu vào trong cuộc sống của mình.
Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Bởi vì “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ. Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu.Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).
Chúa Giêsu chết trên thập giá, muốn minh chứng rằng Người yêu thế gian hơn yêu chính mình. Nơi thập giá,Chúa Giêsu chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là một tình yêu ở dạng thức cao nhất:Tình Yêu đến mức tận cùng, một Tình Yêu tự hiến trọn vẹn của Thiên Chúa. Yêu là hiến tế, là hy sinh chính mình. Hiến dâng chính mình vì thiện ích của kẻ khác. Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như là sự đền bù vì ơn cứu độ nhân loại.
Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.
Chúng ta yêu mến, tôn thờ Chúa Giêsu trên Thánh Giá.Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú đang che mờ bóng thánh giá. Con người đang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá. Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn. Từ Thánh Giá Ðức Kitô, tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người. Suy tôn Thánh Giá chính là suy tôn tình yêu, sự sống của Chúa Kitô.

suytonTG

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

THÁNH INHAXIÔ LOYOLA



Bị bệnh gan nặng nhưng tâm hồn đầy thanh thản, bình yên, cha thánh I Nhã lìa đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 trong căn phòng tĩnh lặng chỉ có chính cha với Thiên Chúa.

Lúc sinh thời, cha I Nhã Loyola tha thiết ước mong đem đến cho mọi người tin mừng về Thiên Chúa và để mọi người nhận biết rằng Thiên Chúa thương con người, đã sai Con Một yêu dấu của Ngài làm người.  Tin Mừng về Chúa Kitô bị đóng đinh chết và sống lại để giải thoát, kêu gọi loài người trở về sự thánh thiện nguyên thủy và mời gọi con người sống mãi với Thiên Chúa.  Giáo Hội cũng chỉ loan báo tin mừng này, nhưng cha I Nhã, dựa vào kinh nghiệm bản thân, có một phương thế đặc biệt để giúp nhiều người nhận thấy Tin Mừng như một kinh nghiệm bản thân.

 Chính cha I Nhã có kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa một cách sống động, thân tình, không thể nghi ngờ được.  Kinh nghiệm của cha I Nhã không phải là hình ảnh Chúa hiện ra, hoặc nước mắt sốt sắng hay là một cảm giác lạ lùng khác mà là kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa hiện diện một cách yên lặng và thật gần gũi.  Một kinh nghiệm khác hẳn với lối suy tư và lý thuyết sâu xa về Thiên Chúa.  Cũng khác với lòng hăng hái dấn thân làm việc tông đồ, kinh nghiệm của cha là một sự gặp gỡ giữa chính mình và Thiên Chúa, trong sâu xa thanh tịnh của cõi lòng, nơi chúng ta cảm thấy bình an, vui sướng, tràn đầy sức sống và tình yêu, là kinh nghiệm gặp Thiên Chúa và bắt đầu từ bỏ chính mình để nhường chỗ cho Thánh Ý và Tình Yêu của Ngài.

 Kinh nghiệm này của thánh I Nhã bắt nguồn từ một vết thương ngài bị nơi đầu gối trong một cuộc chiến xảy ra ở thành Pamplona vào năm 1521 giữa quân Pháp và quân Tây Ban Nha.  Lúc ấy, I Nhã là một sĩ quan rất trẻ và anh dũng của hoàng đế Tây Ban Nha.  I Nhã đã đôn đốc, nâng đỡ tích cực tinh thần binh sĩ của mình, một lực lượng bé nhỏ, để kháng cự và đương đầu với quân Pháp đang bủa kín, bao vây thành.  Bị thương nặng, I Nhã trở về Loyola, nơi mà 30 năm trước, I Nhã, con út của một đại chủ vùng Loyola (miền bắc Tây Ban Nha) chào đời.  Trong suốt 6 tháng trời dưỡng thương, I Nhã rất yếu, thập tử nhất sinh nhiều lần.  Trôi theo tháng ngày dưỡng bệnh, các kế hoạch cũ của I Nhã bắt đầu lung lay.  I Nhã là một chàng thanh niên hào hoa, khoáng đạt, tràn tinh thần hiệp sĩ, đầy tham vọng.  Mặc dù song thân muốn I Nhã trở thành linh mục nhưng I Nhã lại có kế hoạch khác: tham vọng của I Nhã lớn lắm: I Nhã thích ăn chơi hơn là đọc kinh, lãnh nhận các bí tích hoặc tuân giữ các giới răn của Chúa.
Ở Loyola và Manresa, năm 1521 và 1522, I Nhã bắt đầu kết thân với Thiên Chúa.  Tình thân mới đã mở mắt I Nhã và, nhờ kinh nghiệm nội tâm, I Nhã bắt đầu hiểu giá trị của các bí tích, lòng sùng kính Ðức Mẹ, mục đích các diều răn Thiên Chúa.  Ngay từ bước đầu trên đường về nhà CHA, Chúa Giêsu là hình ảnh vẹn toàn của Chúa CHA đã giúp I Nhã hiểu tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian và chính mình.  Suốt cuộc sống, cha I Nhã luôn luôn biết tìm hiểu và cảm mến Thiên Chúa mênh mông, bao la qua cử chỉ nho nhỏ, đơn sơ trong cuộc sống Chúa Giêsu.  I Nhã tìm thấy Thiên Chúa bằng cách tìm hiểu và thương mến bước theo chân Chúa Giêsu Nazareth, con của Mẹ Maria.  Ðức Mẹ dẫn I Nhã đến với Chúa Giêsu.  Ðể kết thân với Chúa Giêsu cũng như mỗi lần muốn đạt tới một ơn tối quan trọng (ba lời tâm sự trong Tuần 1, lời tâm sự Hai Cờ Hiệu...) cha I Nhã đã khẩn cầu với Ðức Mẹ trước.

 Năm 1524, I Nhã ngồi chung lớp với các trẻ em để học La ngữ và can đảm bắt đầu bước trên đường trở thành linh mục.  Muốn có một căn bản vững chắc về thần học, I Nhã sang Ba-Lê là trung tâm văn hoá nổi danh nhất Âu Châu thời ấy và học đến năm 1535, I Nhã tốt nghiệp hai cấp bằng cử nhân triết học và cao học thần học.  Sau một năm chuẩn bị sốt sắng, ngài thụ phong linh mục và làm lễ mở tay năm 1536.  Cha I Nhã xác tín rằng mọi người đều có thể gặp Thiên Chúa một cách thân tình.  Cha dùng các khoá cấm phòng theo phương pháp Linh Thao để hướng dẫn các vị giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân nam nữ.  Trong các khoá Linh Thao, cha giúp họ mở lòng lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa.  Trong Linh Thao, họ trở về với Thiên Chúa và bắt đầu bước theo Chúa Giêsu như người bạn đường chí ái.

 Trong số các thầy cùng học tại đại học Ba-Lê, có một nhóm nhỏ dấn thân theo cha I Nhã.  Năm năm sau, nhóm này thành lập dòng Tên (dòng Chúa Giêsu).  Người thanh niên hiệp sĩ, tự ái cao ngạo I Nhã xưa, nay bắt đầu theo chân Thầy, nghèo và khiêm nhường.  Dòng của cha I Nhã cũng theo nếp sống nghèo, khiêm nhường, xa quyền thế ngoài đời và quyền thế trong Giáo Hội.  Sinh ra trong một gia đình giàu có, quý phái, quen biết với nhiều người có địa vị cao sang, cha I Nhã có thể được phong chức cao trong Giáo Hội, nhưng ngài không bị ảnh hưởng của quyền thế cao trọng, chức bậc giàu sang lôi cuốn. Cha luôn luôn theo Chúa Giêsu: nghèo và khiêm nhường.  Ðây là một nét của dòng Tên, hiện tại xem ra hơi thiếu.  Có rất nhiều hình thức quyền thế: tiền bạc, bằng cấp cao, thế lực chính trị, ảnh hưởng. .. Chúng ta dễ bị tham quyền và lấy cớ cần một chút phương tiện và quyền thế mới để có thể rao giảng Tin Mừng.  Trong khi Chúa Giêsu chỉ xử dụng quyền của sự thật và tình thương, và đã cứu chuộc chúng ta nhờ sự yếu đuối của thập giá.

 Cha I Nhã kính nể và thương mến Hội Thánh.  Ngài luôn luôn phục vụ và bênh vực Hội Thánh, nhất là trong thời các giáo phái Tin Lành cảm thấy bất mãn và tách khỏi Giáo Hội Công Giáo.  Năm 1540, Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận dòng Tên để phục vụ Giáo Hội dưới quyền chỉ huy của Ðức Thánh Cha.  Cha I Nhã luôn luôn muốn phục vụ và sống trong lòng Giáo Hội (xem các nguyên tắc sống trong lòng Giáo Hội) nhưng cha không chịu nịnh bợ những người cầm quyền trong Giáo Hội.  Cha phục vụ và thương mến Giáo Hội được Chúa Giêsu lựa chọn và sai đi để mang Tin Mừng cứu rỗi đến mọi người.  Ðối với cha I Nhã, các giáo dân, cũng như chủ chiên là nhiệm thể của Chúa Giêsu và Chúa Giêsu là đầu.  Như thánh Phaolô, cha I Nhã tin rằng Giáo Hội, nhờ Chúa Thánh Thần, là cô dâu duyên dáng, tinh tuyền, chung thủy của Chúa Giêsu.

 Vì mến Giáo Hội và mong Giáo Hội chu toàn sứ mệnh đem Tin Mừng đến với nhân loại, cha I Nhã luôn luôn mang tinh thần canh tân đến các cộng đoàn.  Cha bị nhiều linh mục và giáo sĩ nhìn với cặp mắt nghi ngờ, ghen ghét.  Cha bị đại diện của Giáo Hội bắt giam tù ở Alcala và Salamanca.  Tại La Mã cha cũng bị vài giáo phẩm cao cấp ghét thậm tệ.  Trong tinh thần canh tân, cha I Nhã có nhiều sáng kiến mới.  Cha luôn luôn muốn đáp ứng những nhu cầu cấp bách của đồng loại: năm 1538 cha mở phòng ăn tại La Mã cho hàng trăm người nghèo ăn mỗi ngày để thoát nạn đói.  Mở một cư xá đặc biệt để đón nhận các cô gái hoang đàng, muốn trở về xây dựng lại cuộc sống.  Cha mở lớp huấn nghệ ngay trong thành phố và giúp họ chuẩn bị trở về với đời để trở nên người đàng hoàng hữu ích.  Cha mở cư xá cho người Do Thái và Hồi Giáo muốn học đạo Công Giáo.

 Cha I Nhã có tinh thần uyển chuyển, đầy óc sáng tạo để đáp ứng với nhu cầu mới, đồng thời ngài có một tinh thần sâu xa, vững chắc: nuôi dưỡng phát triển đời sống nội tâm; xét mình, nguyện ngắm Kinh Thánh, sùng kính Ðức Mẹ, vâng phục Ðức Giáo Hoàng, có tinh thần khó nghèo, lòng khiêm nhường. Trên hết, ngài muốn là bạn đồng hành của Chúa Giêsu, phục vụ Chúa và đáp lại các nhu cầu tinh thần của tha nhân. (Trích ĐH 7-8/ 1984)

LM Julian Élizaldé Thành, SJ

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

THẾ NÀO LÀ CẦU NGUYỆN?



Cầu nguyện là lắng tai nghe tiếng Chúa nói với ta.
Cầu nguyện là tiếp nhận những gì Chúa muốn ban cho.
Cầu nguyện là đón nhận ơn tha thứ từ nơi Chúa.
Cầu nguyện là quy hướng về Chúa mọi việc ta làm.
Cầu nguyện là để Chúa chiếm ngự linh hồn mình. 
Cầu nguyện là tưởng nghĩ đến Chúa với tâm tình thân mật, thiết tha.
Cầu nguyện là tìm hiểu rằng ta được Chúa thương yêu, giữ gìn, coi sóc.
Cầu nguyện là liên lạc với Chúa như với người thân mến yêu thương.
Cầu nguyện là để mình chìm đắm trong Chúa; là biển cả yêu thương. 
Cầu nguyện là đi vào cõi thinh lặng.
Cầu nguyện là mến thương trò chuyện với Chúa.
Cầu nguyện chỉ là việc hiệp nhất với Thiên Chúa.
Cầu nguyện là tin rằng Thiên Chúa luôn luôn có lý.
Cầu nguyện là gỡ tấm màn để nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa. 
Cầu nguyện là sẵn sàng để Chúa có thể nói với ta những gì Người muốn nói.
Cầu nguyện là phó thác để Chúa có thể làm ở trong ta những gì Người muốn làm.
Cầu nguyện là tiến lại gần Chúa, để thấy rằng Chúa tuy xa song lại rất gần gũi.
Cầu nguyện là đi sâu vào tâm hồn Đấng mình gọi là Cha, mặc dù mình tội lỗi, bất xứng.
Cầu nguyện là hướng mình về Chúa như hướng về mặt trời để được Người sưởi ấm tâm hồn.
Cầu nguyện là xác tín rằng Thiên Chúa biết rõ hơn chúng ta những gì chúng ta cần.
Cầu nguyện là tìm cách hoà đồng ước muốn của mình với Thánh ý Chúa.
Cầu nguyện là tin rằng Chúa không ngừng chăm nom, săn sóc và phù trợ ta.
Cầu nguyện là tin rằng có Chúa Quan Phòng, đếm từng sợi tóc trên đầu ta.
Cầu nguyện là ngừng bước, là suy tư, là sắp xếp giờ giấc và việc làm theo ý Chúa.
Cầu nguyện là mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa, để Người thông truyền cho ta Tình yêu bao la của Người.
Cầu nguyện là để Thánh Thần Chúa đưa mình vươn lên tới Đức Chúa Cha trong Đức Chúa Con.
Cầu nguyện là yên lặng nhìn ngắm Chúa, không cần nói năng, là nói với Chúa bằng ánh mắt và bằng suy tư.
Cầu nguyện là tiếng rên siết lo âu, là lời khẩn cầu ơn cứu trợ, là việc chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa.
Cầu nguyện là chấp nhận quyền ưu tiên của Thiên Chúa, là nhận Người làm chủ đời sống mình.
Cầu nguyện là giữ thái độ phó thác của trẻ thơ, biết tin cậy vào sự chăm sóc của Thiên Chúa, là người Cha nhân hậu.
Cầu nguyện là thay đổi ý định của mình và tôn trọng ý định của Thiên Chúa.
Cầu nguyện là chấp nhận để một “người khác” (và đây là Thiên Chúa) “quấy rầy” mình. 
Cầu nguyện là một cử chỉ xác tín rằng
Thiên Chúa hiện hữu.
Thiên Chúa đang nhìn xem ta.
Thiên Chúa lắng tai nghe ta.
Thiên Chúa trả lời và cứu trợ ta.
Thiên Chúa thương ta như Cha thương con. 
Cầu nguyện là tất cả 
Là lắng nghe tiếng Chúa nói.
Là sẵn sàng làm theo lệnh Người truyền.
Là ngợi khen, chúc tụng, cầu khẩn.
Cầu nguyện là để Chúa cải hoá bản thân ta.
Cầu nguyện là nhận thức rằng mình yếu đuối.
Cầu nguyện là hành động của trẻ thơ,
biết mình vụng dại,
biết mình hèn mọn,
biết mình mỏng giòn,
nhưng cũng biết rằng Chúa là “Mẹ hiền”,
là “Người Cha vô cùng nhân hậu”. 
Cầu nguyện là thú nhận với Chúa
tuy con yếu đuối,
tuy con tội lỗi,
tuy con đầy khuyết điểm,
nhưng vẫn được Chúa thương yêu. 
Cầu nguyện đôi khi cũng là lời thú nhận với Chúa
Con không hiểu việc Chúa làm.
Không hiểu tại sao con phải đau khổ.
Nhưng con vẫn tin rằng Chúa làm thế, để xảy ra như thế là vì yêu thương con. 
Cầu nguyện là xin Chúa hãy đến trong ta để lãnh đạo việc ta phấn đấu với ba thù.
Cầu nguyện là vặn nút đài cho tâm hồn mình trùng với tần-số của Thiên Chúa.
Cầu nguyện là gửi đi một lá thư, một bức điện tín và tin rằng Chúa sẽ nhận được.
Cầu nguyện là chăm chú tiếp nhận thư từ điện tín từ trời cao Chúa gửi riêng cho ta.
Cầu nguyện là dùng ngôn ngữ của Thiên Chúa, chứ không phải ngôn ngữ của trần gian. 
Cầu nguyện là chìa khoá mở cửa ban mai, là then cửa cài khi đêm tối đến.
Cầu nguyện là thứ vũ khí vô song có sức mở rộng Trái Tim Thiên Chúa.
Cầu nguyện là mến Chúa khi ăn, khi ngủ, khi sống giữa trần gian.
Cầu nguyện là để Thánh Thần Chúa hành động trong ta, để Người uốn nắn tư tưởng và hành động của ta, hầu trở thành “đất sét trong tay người thợ gốm”. 
Cầu nguyện là để cho “nhựa sống thần linh” lưu chuyển trong ta và làm cho ta được sống.
Cầu nguyện là dành cho Chúa chút thì giờ để Người thực hiện trong ta, dù ta không ưa nhưng Người lại muốn.
Cầu nguyện là bắt nhịp cầu liên lạc với Đấng Vô Hình, mắt ta không nhìn thấy song tâm hồn ta lại cảm thấy đang hiện diện trong mình.
Cầu nguyện là một dòng sông tự vẽ cho mình hướng chảy, tự tạo cho mình bề rộng mênh mông và chảy ra biển cả là Thiên Chúa. 
CẦU NGUYỆN LÀ NHƯ VẬY ĐÓ! 
Michel Germain Guillot
NVH chuyển dịch
(emty.org Cập nhật: 25/09/2011 - 10:25:30)

THÁNH ANTÔN PAĐUA, (St. Anthony of Padua)


THÁNH ANTÔN PAĐUA, (St. Anthony of Padua)
Linh mục, tiến sĩ Hội Thánh, ngày 13/6
         
 “ Muôn dân tường thuật sự khôn ngoan của các thánh, và Giáo Hội loan truyền lời ca tụng các Ngài: tên tuổi các Ngài sẽ muôn đời tồn tại”( Hc 44, 14-15 ).Thánh Antôn Pađua qua đời mới có 36 tuổi, nhưng Ngài đã nổi tiếng về nhân đức ,phép lạ và những tư tưởng của Ngài.

MỘT LÝ TƯỞNG. MỘT CUỘC ĐỜI :
Thánh Antôn Pađua được sinh ra trong một gia đình quyền quí, đạo đức và thánh thiện tại Lisbone thủ đô nước Bồ Đào Nha vào năm 1195. Thánh nhân được hấp  thụ một nền giáo dục đạo đức và đầy bác ái, nên Ngài sớm nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Thánh nhân xin gia nhập Dòng thánh Augustinô và được nhà Dòng, Bề Trên cho lãnh nhận sứ vụ linh mục. Tuy nhiên, thánh nhân thích sống chiêm niệm, sống khắc khổ, khiêm tốn, Ngài ước muốn được đi truyền giáo cho dân ngoại và mong muốn được chết tử vì  đạo, chính vì thế thánh nhân xin gia nhập Dòng anh em hèn mọn Phanxicô vào năm 1220. Thánh nhân cầu được ước thấy vì các Bề Trên chấp nhận lời cầu xin của Ngài, sai Ngài đi truyền giáo cho thổ dân Sarrasins bên Phi Châu. Nhưng ý Chúa thật nhiệm mầu, thánh nhân khi vừa tới Phi Châu đã ngã bệnh nặng và phải quay trở về chữa bệnh. Trên đường về lại quê hương, tầu của Ngài bị bão đánh dạt vào đảo Sicile thuộc nước Ý Đại Lợi, Ngài tới cư ngụ tại nhà Dòng ở Monte Paulo.

CÁI TÀI CHÚA BAN CHO THÁNH NHÂN:
Nhờ tài lợi khẩu, nhờ gương sáng đạo đức và thánh thiện, Ngài được các Bề Trên tin tưởng, tín nhiệm sai đi giảng khắp nơi và lo công việc đào tạo, giáo dục các tu sĩ trong Dòng. Chúa ban sức mạnh cho thánh nhân, Chúa Thánh Thần luôn tác động tâm hồn thánh nhân, nên lời giảng của Ngài luôn luôn có sức thu hút, lôi cuốn nhiều người. Chúa củng cố lời giảng của thánh Antôn Pađua bằng nhiều phép lạ kèm theo. Thánh nhân đã có ảnh hưởng rất lớn tại Ý, tại Pháp, thánh nhân làm việc không mệt mỏi, không ngơi nghỉ. Ngài được đặt tên là “ Hòm Bia Giao Ước” và “ Cái búa của bọn lạc giáo” đúng như lời  sách thánh:” Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho muôn người nên công chính, sẽ chiếu sáng như những vì sao, đến muôn thuở muôn đời”( Đn 12, 3 ).

CHÚA THƯỞNG CÔNG THÁNH ANTÔN PAĐUA:
Bông hoa tươi đẹp, Chúa ngắt về với Ngài để thánh nhân sống bên Chúa ngày 13 tháng 6 năm 1231. Thánh nhân ra đi trong an bình, trở về với Chúa khi Ngài mới tròn 36 tuổi. Thánh nhân rất nổi tiếng về các nhân đức và các phép lạ Ngài đã làm. Năm 1946, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong thánh Antôn Pađua làm tiến sĩ Hội Thánh.

 “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho dân Chúa một nhà giảng thuyết lừng danh và cũng là người cứu giúp những ai nghèo khổ, đó là thánh linh mục Antôn. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, cho chúng con biết trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô, để được nâng đỡ trong những lúc ngặt nghèo”
 ( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Antôn Pađua ).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT             

Đang tải dữ liệu, chờ chút nha bạn!!!...